Để mô hình dưỡng lão ngày càng hiệu quả, toàn diện

Việt Nam nằm trong số 10 nước có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới, tính đến hết năm 2017, cả nước có 11 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 11,95% dân số, trong đó có khoảng gần 2 triệu người từ 80 tuổi trở lên. Báo cáo quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA) cũng nhấn mạnh tốc độ già hóa dân số của Việt Nam tương đối nhanh, tỷ lệ người cao tuổi sống cô đơn cũng đang có xu hướng gia tăng. Trước thực trạng trên, nhu cầu đối với hệ thống chăm sóc sức khỏe người cao tuổi là tất yếu trong đó có loại hình nhà dưỡng lão đang từng bước phát triển.

Các mô hình dưỡng lão ở Việt Nam

Mô hình của các cơ sở chăm sóc người cao tuổi ở Việt Nam hiện nay có thể chia thành 3 nhóm. Nhóm thứ nhất là các cơ sở do các cá nhân, doanh nghiệp đứng ra tổ chức, xây dựng. Với những doanh nghiệp hoặc cá nhân có điều kiện họ bỏ tiền ra thuê đất, xin cấp phép sau đó xây dựng cơ sở vật chất và đưa vào hoạt động. Các cơ sở này vận hành theo mô hình kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khỏe, có lợi nhuận để tự duy trì hoạt động. Mô hình nhà dưỡng lão tư nhân đầu tiên ở Hà Nội là Trung tâm chăm sóc người cao tuổi Bách Niên Thiên Đức (2001) do ông Nguyễn Tuấn Ngọc sáng lập và hiện là một trong những mô hình nhà dưỡng lão tương đối thành công.

Dưỡng lão Bách Niên Thiên Đức

Nhóm thứ hai là các cơ sở dưỡng lão từ thiện do các cá nhân hoặc tổ chức tôn giáo như nhà chùa, giáo hội đứng ra tổ chức. Các cơ sở này hoạt động theo mô hình thiện nguyện, kinh phí hoạt động do sự đóng góp của các doanh nghiệp, cá nhân hảo tâm nên cơ sở vật chất thường không được khang trang, diện tích nhỏ, chủ yếu nuôi dưỡng những người cao tuổi cô đơn, không có người thân thích, lang thang, cơ nhỡ… Nhóm thứ ba bao gồm các sở chăm sóc, điều dưỡng người có công, người cao tuổi thuộc diện chính sách do nhà nước đứng ra bảo trợ. Các cơ sở này có cơ ngơi khang trang, được nhà nước hỗ trợ về kinh phí lẫn chính sách tuy nhiên số lượng các cơ sở này còn ít và đa phần các cơ sở này chỉ chủ yếu chăm sóc, điều dưỡng luân phiên chứ không nhận nuôi dưỡng suốt đời.

Về mặt hạ tầng, quy mô các cơ sở cũng rất khác nhau và không có một tiêu chí thống nhất cụ thể về chỉ tiêu diện tích/người. Có những cơ sở an dưỡng cao cấp như làng an dưỡng Ba Thương (Củ Chi, Tp. Hồ Chí Minh) có diện tích vài ha trong khi rất nhiều cơ sở chăm sóc người cao tuổi từ thiện khác chỉ là một hệ thống phòng ốc nhỏ bên trong khuôn viên của nhà chùa hoặc do các cá nhân tự mở ra với diện tích chỉ có vài trăm m2. Trang thiết bị của các cơ sở còn khá hạn chế và thiếu thốn. Một số cơ sở được đầu tư tốt hoặc được sự hỗ trợ của nhà nước mới có các khu vực phục hồi chức năng, vật lý trị liệu cũng như diện tích sân vườn, cảnh quan cây xanh cho nhu cầu thư giãn nghỉ ngơi như dưỡng lão Thiên Phúc, Diên Hồng, ALH… đều đáp ứng tốt. Số còn lại là các cơ sở từ thiện chỉ có thể đáp ứng nhu cầu ăn, ở cho người cao tuổi còn gần như không có các trang thiết bị chăm sóc, phục hồi sức khỏe cũng như diện tích sân vườn phụ trợ.

Những mặt hạn chế

Phân khu chức năng trong các trung tâm dưỡng lão ở Việt Nam hiện nay nhìn chung tương đối đơn giản và cơ bản giống nhau. Với số lượng người cao tuổi nhiều và tình trạng bệnh lý phức tạp như vậy, cộng với việc thiếu điều dưỡng, đa phần các nhà dưỡng lão đều có một phòng hội trường với diện tích tương đối lớn ở trung tâm để tập trung các cụ trong những giờ sinh hoạt chung để tiện cho việc chăm sóc và quản lý. Các khu vực chức năng còn lại bao gồm khu vật lý trị liệu, phòng ăn, bếp nấu, hệ thống phòng ở, phòng điều hành và phòng nghỉ của nhân viên. Có thể thấy với mô hình này, những không gian riêng tư cho người cao tuổi gần như không có. Những nhu cầu như đọc sách, nghiên cứu hay cập nhật thông tin qua máy tính đối với những cụ còn minh mẫn gần như chưa được quan tâm.

Khu chăm sóc sức khỏe hiện đại tại Dưỡng Lão Thiên Đức 

Việc thiết kế đảm bảo tính an toàn, khi sử dụng ở một số nhà dưỡng lão đã được chú ý nhưng đa phần vẫn chưa được quan tâm đúng mức hoặc do điều kiện khách quan nên không thể đảm bảo tính thuận tiện trong sinh hoạt. Ở nhiều cơ sở dưỡng lão, phòng ở, hành lang cũng như khu vệ sinh vẫn không có hệ thống tay vịn hoặc các trang thiết bị hỗ trợ vệ sinh cho người cao tuổi. Một số trung tâm dưỡng lão do điều kiện diện tích không đủ đã phải bố trí phòng ở cho người cao tuổi ở tầng 2 hoặc thậm chí tầng 3 trong khi các khu vực vật lý trị liệu lại nằm ở tầng 1 nên cũng gây ra nhiều hạn chế trong việc tự đi lại, vận động của người cao tuổi. Bên cạnh đó, việc sử dụng vật liệu lát nền đảm bảo an toàn, chống trơn trượt cũng chưa được quan tâm.

Cần sự quan tâm đặc biệt

Vấn đề lão hóa dân số hiện nay đang trở thành vấn đề mới có tính toàn cầu. Dân số lão hóa kéo theo hàng loạt vấn đề như gia tăng đáng kể chi phí an sinh xã hội, mất cân đối quỹ lương hưu, bất đồng thế hệ thêm sâu sắc, hệ thống cơ sở vật chất và môi trường sống cho người cao tuổi thêm áp lực…tác động lên toàn bộ các hoạt động tổng thể của kinh tế xã hội từ văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, lao động và việc làm, quy hoạch đô thị và xây dựng tới mọi khía cạnh khác của đời sống. Trước một vấn đề đã nảy sinh và đã đạt tới một mức độ nhất định đòi hỏi các nhà quản lý và chuyên môn cần có một sự quan tâm đáng kể trước khi quá muộn, khi mà trong một dự báo tương lai gần khoảng năm 2030 nước ta sẽ đối mặt với những thách thức do vấn đề lão hóa dân số mang lại. Trong điều kiện KTXH cụ thể của Việt Nam, việc xây dựng các trung tâm chăm sóc người cao tuổi quy mô lớn như các nước tiên tiến là khó khả thi và cũng không phù hợp với nguyện vọng, lối sống của đa số người cao tuổi do đó cần có một lộ trình trong đó coi trọng việc xây dựng cơ sở chăm sóc người cao tuổi và các biện pháp an sinh xã hội trong một tổng thể phù hợp trình độ quản lý và điều kiện KTXH, phù hợp tập quán, truyền thống văn hóa.

Trước mắt kiến nghị tập trung nghiên cứu triển khai các trung tâm chăm sóc quy mô vừa và nhỏ có sự phân cấp đầu tư và quản lý trong một nền kinh tế thị trường với cơ cấu xã hội bao gồm ba bộ phận: các cơ quan Chính phủ, khu vực lợi nhuận, khu vực phi lợi nhuận. Hiện tại khu vực phi lợi nhuận với các cơ sở dưỡng lão quy mô nhỏ đang chiếm ưu thế, tuy nhiên khu vực lợi nhuận đang có xu hướng phát triển với các cơ sở quy mô nhỏ tới vừa trong tương lai gần sẽ chiếm vị trí chủ đạo do điều tiết của kinh tế thị trường. Bên cạnh đó là vai trò định hướng của các cơ sở chăm sóc người cao tuổi thuộc trách nhiệm trợ cấp xã hội của Chính phủ, ba bộ phận này cần hoạt động gắn kết chặt chẽ với nhau để hình thành hệ thống các “đối tác” bổ sung lẫn nhau.

Xây dựng mô hình dưỡng lão chuyên sâu

Do các quy định về quản lý, cấp phép chỉ mới được ban hành gần đây và cũng chưa có các tiêu chí cụ thể để đánh giá, kiểm tra chất lượng của các trung tâm chăm sóc người cao tuổi nên các cơ sở chăm sóc người cao tuổi tư nhân hiện nay đều tự vừa làm, vừa nghiên cứu, học hỏi áp dụng các mô hình chăm sóc người cao tuổi ở các nước phát triển chứ không theo một khung tiêu chuẩn cụ thể nào. Giữa các trung tâm cũng không có sự liên hệ, trao đổi kinh nghiệm với nhau để xây dựng một mô hình hoạt động thống nhất mà hoàn toàn phát triển tự phát, dựa trên điều kiện kinh tế, kinh nghiệm của từng doanh nghiệp, cá nhân nên các cơ sở chăm sóc người cao tuổi hiện nay chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất, trình độ của các điều dưỡng viên, đội ngũ y tá, bác sĩ cũng không đồng đều.

Chăm sóc người cao tuổi tại Dưỡng lão Thiên Đức

Trước thực tế đó, cần có nghiên cứu cụ thể, chuyên sâu đối với mô hình chăm sóc sức khỏe, tinh thần cho người cao tuổi ở Việt Nam. Cụ thể như: nhu cầu ở của người cao tuổi; Cộng đồng chăm sóc người cao tuổi; Căn hộ cho người cao tuổi; Môi trường cư trú trong nhà và ngoài trời cho người cao tuổi; Xây dựng hệ thống phân loại nhà dưỡng lão để từ đó xác định các tiêu chuẩn thiết kế liên quan phù hợp từng loại hình và quy mô... Từ đó xây dựng một khung tiêu chuẩn chung, cụ thể đối với việc thiết kế, xây dựng các hệ thống nhà dưỡng lão trên cả nước để làm tiêu chí đánh giá, phân loại và tiến tới xã hội hóa loại hình nhà ở đặc biệt. Việc làm này sẽ góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người cao tuổi, phát huy vai trò người cao tuổi phù hợp với tiềm năng và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước theo đúng tinh thần của chương trình hành động quốc gia về người cao tuổi Việt Nam.

Copyright © Bach Nien Thien Duc. All Rights Bach Nien Thien Duc

Thiết kế bởi Aptech