Phát triển cơ sở chăm sóc Người cao tuổi: Cần đẩy mạnh xã hội hóa hơn nữa

Trước xu hướng phát triển mô hình gia đình hạt nhân và thực trạng già hóa dân số như hiện nay, các trung tâm chăm sóc cho người cao tuổi (NCT) ra đời là một giải pháp hữu hiệu. Tuy nhiên làm thế nào để nâng cao chất lượng, số lượng các trung tâm chăm sóc người cao tuổi với nhu cầu ngày càng lớn đang là vấn đề được nhiều người quan tâm.

Nhìn từ nhu cầu thực tế

Rất nhiều người nghĩ rằng viện dưỡng lão chỉ dành cho người già neo đơn, khó khăn và không được con cái quan tâm, chăm sóc. Tuy nhiên, thực tế ngày nay có rất nhiều NCT lựa chọn vào viện dưỡng lão như là một giải pháp giảm nhẹ gánh nặng cho con cái và tìm kiếm niềm vui tuổi già.

Chăm sóc Người cao tuổi tại Trung tâm Chăm sóc Người cao tuổi Bách Niên Thiên Đức

Cụ Lê Bích Châu, 88 tuổi trú tại Nguyễn Khang (Hà Nội) tính đến nay đã ở tại Trung tâm Chăm sóc Người cao tuổi Bách Niên Thiên Đức gần 10 năm, cho biết, ngày trước, cụ đưa ra ý kiến muốn vào sống trong trung tâm nhưng các con phản đối. Sau đó, cụ phải giải thích rất nhiều thì con cháu mới đồng ý. Ví dụ phân tích rõ chuyện các con bận bịu cả ngày, người giúp việc chăm sóc chưa chu đáo

Khi bước vào cuộc sống mới nơi dưỡng lão, quyết định của cụ càng trở nên đúng đắn hơn. “Ở trung tâm, cán bộ, nhân viên được đào tạo bài bản, thái độ rất tốt, đêm ngày đều có người trực, tôi cần gì thì bấm chuông là họ có mặt. Tinh thần cũng phấn chấn hơn ở nhà, tôi cảm thấy hứng thú hơn khi viết nhật ký, đọc và dịch sách tiếng Anh, tiếng Pháp làm thơ và tham gia văn nghệ”

Chung đánh giá với cụ Châu, cụ Đỗ Khắc Định (89 tuổi) cho hay, ở dưỡng lão được chăm sóc đầy đủ từ ăn uống, đi lại, hưởng thụ không khí trong lành. Quan trọng nhất là con cái có nhiều thời gian làm ăn, không phải lo nghĩ cho cha mẹ già. Vào cuối tuần hay các dịp lễ, Tết con cháu lại kéo nhau vào thăm nên cũng không có gì phải buồn.

Nhiều rào cản trong thực thi chính sách ưu đãi

Ra đời từ năm 2009, luật Người cao tuổi đã thể hiện sự quan tâm của nhà nước trong việc thiết lập hành lang trong bảo vệ quyền lợi NCT về đảm bảo đời sống, vật chất, tinh thần cho nhóm người yếu thế này trước tình trạng già hóa dân số diễn ra nhanh chóng.

Luật NCT càng trở nên thiết thực hơn bao giờ hết, theo một con số thống kê đưa ra ở Việt Nam hiện nay có khoảng 11 triệu NCT chiếm 11% dân số, số người trên 80 tuổi trên 2 triệu người. Tuổi thọ trung bình NCT ở nước ta khá cao, thế nhưng tuổi trung bình khỏe mạnh khá thấp (64 tuổi). Đặc biệt khoảng 62,7% NCT có tình trạng sức khỏe yếu và rất yếu, 73% trong số đó không có lương hưu và 95% NCT mắc các bệnh mãn tính. Những con số này cho thấy không chỉ chiếm đông đảo mà phần lớn NCT ở nước ta phải sống phụ thuộc vào gia đình con cái và trợ cấp của xã hội.

Hiện nay, ở nước ta số lượng cơ sở chăm sóc NCT ở Việt Nam mới chỉ đếm trên đầu ngón tay với số lượng 13 cơ sở chưa đáp ứng nhu cầu thực tế là rất lớn. Mặt khác các cơ sở còn nhiều phụ thuộc vào nhà nước, việc phát triển các Trung tâm Chăm sóc NCT tư nhân là vấn đề không chỉ người dân mà các đại biểu quốc hội cũng hết sức quan tâm làm sao để gỡ bỏ những vướng mắc để có thêm nhiều chính sách hấp dẫn các doanh nghiệp tham gia. Công tác xã hội hóa chăm sóc NCT là vấn đề quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Theo bà Đỗ Thị Lan (Đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Ninh), dẫn chứng trong điều 20, Luật Người cao tuổi năm 2009 đã quy định: Các tổ chức, cá nhân đóng góp, đầu tư, xây dựng cơ sở chăm sóc Người cao tuổi bằng nguồn kinh phí của mình được hưởng các chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật về chính sách, khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường. Cụ thể các doanh nghiệp này sẽ được giao đất, miễn tiền sử dụng đất, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, ưu đãi về thuế GTGT, thuế xuất nhập khẩu, được vay vốn tín dụng đầu tư và rất nhiều các ưu đãi khác.

Tuy nhiên thì đến nay cơ sở chăm sóc NCT đầu tư từ nguồn xã hội hóa thì chưa nhiều. Điều đó cho thấy đang thiếu đi sự thuyết phục về các chính sách ưu đãi cũng như tồn tại nhiều bất cập trong việc triển khai mô hình này.

Mặc dù quy định vậy nhưng thực tế cho thấy các doanh nghiệp vẫn chưa tiếp cận được với các chính sách này, thậm chí còn đối mặt với nhiều khó khăn khác nữa như vốn đầu tư ban đầu lớn, thu hồi vốn chậm, nhỏ giọt, thiếu nhân lực vì công việc vất vả có nhiều rủi ro chưa có quy định chuẩn trong đầu tư và hoạt động của các cơ sở dưỡng lão. Chính những điều này đã hạn chế các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào công tác xã hội hóa, chăm sóc NCT.

Chăm sóc NCT theo mô hình dưỡng lão Nhật Bản tại  dưỡng lão Thiên Đức

Ở góc độ doanh nghiệp, triển khai mô hình dưỡng lão 20 năm qua, ông Nguyễn Tuấn Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chăm sóc Người cao tuổi Bách Niên Thiên Đức không khỏi băn khoăn, thứ nhất về vấn đề nhân lực chăm sóc, điều dưỡng hiện đang rất thiếu hụt, “nghề chăm sóc NCT” vẫn chưa được khẳng định tại Việt Nam. Thứ hai, vẫn còn tồn tại một số trường hợp con cái thiếu trách nhiệm với cha mẹ khi “quên” đóng chi phi chăm sóc bố mẹ ở dưỡng lão, tuy nhiên quy định mức xử phạt theo luật mới chỉ mang tính hình thức ở mức từ 100-300 nghìn đồng, cho nên rất cần những chế tài xử phạt đúng mức coi đó như hành vi ngược đãi cha mẹ”

Còn về mặt xã hội hóa các cơ sở chăm sóc NCT của nhà nước có rất nhiều chính sách được đưa ra nhưng thực tế chưa được thực thi. Trong 20 năm hoạt động thì gần đây nhất vào tháng 7/ 2016, việc chịu thuế GTGT 10% cho dịch vụ chăm sóc NCT mới được gỡ bỏ.

Xã hội hóa các trung tâm chăm sóc NCT là xu hướng phù hợp với thực tiễn nhằm đảm bảo vững chắc quyền an sinh xã hội cho NCT. Bên cạnh đó cũng giúp chia sẻ gánh nặng với nhà nước trong việc bảo trợ nhóm đối tượng này. Nhìn ở các nước phát triển, nhất là tại các nước có tỷ lệ người già cao thì hệ thống cơ sở chăm sóc, các dịch vụ liên quan phát triển hết sức đa dạng cả về loại hình và hoạt động. Ví dụ như tại Nhật Bản là quốc gia khá thành công trong việc huy động nguồn lực xã hội hóa, phát triển các trung tâm dưỡng lão tư nhân chất lượng cao mà Việt Nam hoàn toàn có thể học tập, duy nhất mới chỉ có Trung tâm Chăm sóc NCT Bách Niên Thiên Đức đi theo mô hình này.

Nhân rộng mô hình dưỡng lão tư nhân

Theo thống kê, ở nước ta hiện nay có 402 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có 213 cơ sở công lập và 189 cơ sở ngoài công lập. Mặc dù chiếm số lượng ít hơn nhưng số lượng các cơ sở ngoài công lập sở hữu nhiều ưu điểm vượt trội, nhân lực chuyên nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao hơn do lương được trả theo đúng năng lực, không giao khoán hay hưởng theo bậc lương như công lập.

Theo bà Phạm Thị Hải Chuyền, Chủ tịch Trung ương Hội Người cao tuổi Việt Nam, vị trí của NCT ngày được nâng cao bởi uy tín, kinh nghiệm và đóng góp của mình cho cộng đồng, gia đình và xã hội. Tuy nhiên, trong tổng số trên 10 triệu NCT hiện nay vẫn còn có bộ phận không nhỏ có cuộc sống khó khăn do không có tích lũy cho tuổi già; Một bộ phận NCT vẫn phải tự mưu sinh kiếm sống; Một số người già chưa được tư vấn chăm sóc sức khỏe, chưa được người thân quan tâm. Vẫn còn NCT cô đơn, không nơi nương tựa, đang rất cần sự quan tâm giúp đỡ từ Nhà nước, gia đình và cộng đồng. “Hiện nay đã có những mô hình chăm sóc NCT thông qua công tác xã hội hóa nhưng chưa nhiều, vẫn còn những rào cản cho việc ra đời và hoạt động của các trung tâm chăm sóc NCT do cá nhân, tổ chức thành lập. Gợi ý về một trong các giải pháp thúc đẩy xã hội hóa, bà cho rằng nhà nước nên tạo điều kiện để tư nhân đầu tư, nâng cấp vào các cơ sở công lập vốn đã có lợi thế về mặt bằng. Có cơ chế phù hợp để tư nhân tự chủ về nhân sự, kinh phí, vận hành… để khích lệ làm tốt hơn trong công tác chăm sóc NCT.

Hơn nữa, sự tự chủ, linh hoạt trong tài chính giúp các trung tâm này năng động hơn trong việc triển khai các hoạt động, không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, cơ sở vật chất phù hợp với nhu cầu chăm sóc của NCT. Tuy nhiên cũng phải nhìn nhận rằng chính vì những khó khăn trong viêc tự chủ về kinh tế khiến giá thành tại các trung tâm này còn cao so với khả năng chi trả trung bình của NCT ở nước ta, vì vậy còn nhiều người chưa đủ khả năng tiếp cận loại hình dịch vụ này.

Nhằm góp phần nâng cao nhận thức và trách nhiệm xã hội trong công tác chăm sóc NCT nhà nước cần tạo điều kiện khuyến khích các DN tư nhân đầu tư, đưa các chính sách vào thực tiễn phù hợp với nhu cầu hoạt động thực tế tại các viện dưỡng lão. Cùng với đó, đẩy mạnh các cơ chế thu hút các cá nhân, tổ chức trong xã hội để chung tay xây dựng và phát triển các trung tâm chăm sóc NCT, nhân rộng các mô hình đáp ứng nhu cầu thực tiễn. Nhà nước cũng cần sớm có cơ chế quy định, kiểm soát chuẩn chất lượng cơ sở vật chất, đội ngũ nhân lực, chế tài xử phạt với hành vi thiếu chuẩn mực với NCT ở dưỡng lão...

Mặt khác, cần tăng cường tổ chức các hội nghị trao đổi kinh nghiệm từ các mô hình thực tế hoạt động hiệu quả, qua đó nêu lên khó khăn, vướng mắc trong thực hiện xã hội hóa làm cơ sở đề xuất, sửa đổi các cơ chế, chính sách phù hợp. Ngoài ra, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người dân về trách nhiệm kính trọng, giúp đỡ NCT cũng cần được chú trọng. Xã hội hóa các trung tâm chăm sóc NCT là xu hướng chung phù hợp với sự phát triển của thời đại, muốn thu hút cần phải cởi mở hơn nữa trong các quy định ưu đãi các doanh nghiệp tư nhân nhằm nhân rộng các mô hình dưỡng lão chất lượng, nhân văn đáp ứng nhu cầu thực tiễn.

Copyright © Bach Nien Thien Duc. All Rights Bach Nien Thien Duc

Thiết kế bởi Aptech